Việt Nam đã tới vùng thu nhập của Hàn Quốc năm 1988, nhưng muốn bứt phá phải tăng năng lực nội địa, R&D và chất lượng hợp tác Việt–Hàn.
GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2025 ước khoảng 5.066 USD, đã vượt mốc 4.889 USD mà Hàn Quốc đạt năm 1988. Con số này gợi một phép so sánh hấp dẫn, nhưng không phải lời khẳng định Việt Nam đang đi lại đúng con đường của “kỳ tích sông Hàn”: USD danh nghĩa không phản ánh đầy đủ sức mua, năng suất, năng lực công nghệ hay bối cảnh địa chính trị của hai thời kỳ.
Điểm giống nhau nổi bật là cả hai nền kinh tế đều dùng công nghiệp chế biến, chế tạo, xuất khẩu và đầu tư để dịch chuyển lao động khỏi khu vực năng suất thấp. Hàn Quốc trong giai đoạn tăng tốc hình thành sức cạnh tranh từ thép, đóng tàu, ô tô và điện tử; Việt Nam hiện là mắt xích lớn của châu Á trong điện thoại, máy tính, linh kiện, dệt may, đồ gỗ và đang thu hút thêm bán dẫn, pin, trung tâm dữ liệu.
Tuy nhiên, khác biệt quyết định nằm ở quyền sở hữu năng lực sản xuất. Khi Hàn Quốc bước vào giai đoạn bứt phá, các doanh nghiệp nội địa như Samsung, Hyundai, LG và SK đã dần nắm sản phẩm, thương hiệu, nghiên cứu phát triển và mạng lưới bán hàng quốc tế. Việt Nam đạt quy mô xuất khẩu rất lớn nhưng khu vực FDI vẫn tạo ra khoảng 73% kim ngạch xuất khẩu; riêng điện tử, máy tính và linh kiện, tỷ trọng của khu vực này có thời điểm lên khoảng 95,2%. Nếu doanh nghiệp Việt chỉ đứng ở công đoạn nhân công, đất đai và dịch vụ cơ bản, quy mô sản xuất tăng nhanh nhưng phần giá trị giữ lại trong nước sẽ tăng chậm.
Độ mở cũng tạo ra một cấu trúc rất khác. Xuất khẩu của Việt Nam tương đương khoảng 98,2% GDP, so với khoảng 31,4% của Hàn Quốc năm 1988. Lợi thế là Việt Nam có thể tiếp nhận đơn hàng, vốn và công nghệ nhanh hơn; rủi ro là tăng trưởng nhạy hơn với nhu cầu thế giới, căng thẳng thương mại, tiêu chuẩn carbon và quyết định phân bổ nhà máy của các tập đoàn đa quốc gia.
Việt Nam còn không gian phát triển lớn. Tỷ lệ đô thị hóa hiện khoảng 38,8%, thấp hơn nhiều so với mức 70,6% của Hàn Quốc năm 1988. Nếu đô thị hóa đi cùng giao thông công cộng, nhà ở vừa túi tiền, trường nghề, điện ổn định và dịch vụ số, lao động có thể chuyển vào các cụm sản xuất và dịch vụ năng suất cao. Nếu quản trị yếu, cùng quá trình đó sẽ làm tăng giá đất, tắc nghẽn và chi phí sống, bào mòn lợi thế cạnh tranh.
Dư địa dân số không kéo dài vô hạn. Mức sinh của Việt Nam đã giảm còn khoảng 1,9 con trên một phụ nữ, trong khi quá trình già hóa diễn ra nhanh. Điều này khiến cửa sổ để biến lao động trẻ thành năng suất cao trở nên ngắn hơn. Đầu tư vào giáo dục kỹ thuật, sức khỏe, nhà ở và khả năng tham gia thị trường lao động của phụ nữ không chỉ là chính sách xã hội mà còn là chính sách tăng trưởng.
Khoảng cách công nghệ là phép thử khó nhất. Hàn Quốc tăng chi R&D từ khoảng 0,81% GDP năm 1981 lên khoảng 2,6% năm 1996, qua đó chuyển từ hấp thụ công nghệ sang tự thiết kế và thương mại hóa. Chi R&D của Việt Nam khoảng 0,41% GDP năm 2023. Vì vậy, bước nhảy tiếp theo không thể chỉ là thêm nhà máy; Việt Nam cần nhiều kỹ sư có thể thiết kế, doanh nghiệp có thể đạt chuẩn quốc tế, viện nghiên cứu có thể hợp tác với thị trường và cơ chế bảo vệ sở hữu trí tuệ đủ tin cậy.
Tổng cục Thống kê cho biết kinh tế Việt Nam tăng 8,02% trong năm 2025, quy mô GDP danh nghĩa khoảng 514 tỷ USD. World Bank ước tính Việt Nam cần duy trì tăng trưởng GDP bình quân đầu người khoảng 6% mỗi năm trong hai thập niên để đạt mục tiêu thu nhập cao vào năm 2045. Nền tảng thuận lợi gồm vị trí trong mạng lưới sản xuất châu Á, lực lượng kỹ sư mở rộng, kinh tế số tăng nhanh và mạng lưới hiệp định thương mại rộng; điểm nghẽn là năng suất, chất lượng thể chế và quy mô doanh nghiệp nội địa.
Hàn Quốc đã là một trong những nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam, còn hai nước đặt mục tiêu nâng thương mại song phương lên 150 tỷ USD vào năm 2030. Giai đoạn hợp tác mới nên đi xa hơn mô hình tập đoàn Hàn đặt nhà máy còn doanh nghiệp Việt cung cấp lao động, đất và ưu đãi. Thước đo tốt hơn là số nhà cung cấp Việt đạt chuẩn, số kỹ sư Việt tham gia thiết kế, tỷ lệ mua hàng nội địa và số sản phẩm có sở hữu trí tuệ được đồng phát triển.
Bốn hướng có thể tạo giá trị thực. Thứ nhất, tập đoàn Hàn ký chương trình phát triển nhà cung cấp dài hạn, đi kèm chuyển giao quy trình, tiêu chuẩn và tín dụng thiết bị. Thứ hai, hai bên đặt thêm trung tâm R&D tại Việt Nam trong thiết kế chip, phần mềm công nghiệp, pin và vật liệu, đồng thời gắn ưu đãi với số kỹ sư Việt và bằng sáng chế đồng sở hữu. Thứ ba, doanh nghiệp, đại học và viện nghiên cứu tổ chức chương trình đào tạo chung, cho kỹ sư luân chuyển giữa hai nước. Thứ tư, nguồn vốn và công nghệ Hàn Quốc có thể hỗ trợ lưới điện, lưu trữ năng lượng, logistics, đô thị thông minh và quản trị carbon tại Việt Nam.
Doanh nghiệp muốn theo dõi nhu cầu thị trường có thể xem tín hiệu cơ hội kinh doanh ; đơn vị cần mở kênh hợp tác cụ thể có thể gửi nhu cầu kết nối đối tác . Giá trị của kết nối không nằm ở số cuộc gặp, mà ở hợp đồng, tiêu chuẩn và năng lực mới được giữ lại sau dự án.
Việt Nam không cần và cũng không thể sao chép nguyên mẫu Hàn Quốc. Hàn Quốc đi lên trong một thời kỳ bảo hộ công nghiệp và toàn cầu hóa khác hiện nay; Việt Nam phải tăng trưởng trong thế giới già hóa, cạnh tranh công nghệ gay gắt và yêu cầu phát thải nghiêm ngặt hơn. Bài học cốt lõi không phải dựng lại chaebol, mà là tích lũy năng lực nội địa để doanh nghiệp có thể học, kỹ sư có thể thiết kế và thị trường buộc mọi bên nâng chuẩn.
Phân tích
Ranh giới giữa một nền kinh tế “có nhiều nhà máy” và một nền kinh tế công nghiệp mạnh nằm ở quyền quyết định sản phẩm: ai thiết kế, ai đặt tiêu chuẩn và ai giữ quan hệ với khách hàng. Hợp tác Việt–Hàn sẽ tạo bước ngoặt khi vốn Hàn Quốc giúp doanh nghiệp Việt đi lên nấc thang đó, còn Việt Nam đem lại cho doanh nghiệp Hàn một căn cứ R&D và sản xuất có chiều sâu thay vì chỉ là địa điểm lắp ráp.
Bạn có thể làm gì tiếp theo
Ảnh hưởng tới ai
Người lao động và người đang tìm việc tại Hàn Quốc.
Bạn nên kiểm tra gì
Mức lương thực nhận và điều kiện làm việc theo quy định.
Gợi ý hành động của KVBiz dựa trên nội dung bài · Nguồn: KVBiz Data Desk · Cập nhật 25/08/2026. Không phải tư vấn pháp lý/đầu tư — hãy kiểm chứng theo trường hợp cụ thể.
Kết nối doanh nghiệp Việt–Hàn
Tìm hiểu mạng lưới hội viên, hoạt động kết nối và cơ hội hợp tác dành cho doanh nghiệp Việt Nam tại Hàn Quốc.
Nhận bản tin KVBiz
Tin kinh tế – công nghệ – doanh nghiệp Hàn–Việt chọn lọc, gửi hằng tuần. Miễn phí, huỷ bất cứ lúc nào.
Đừng dừng ở một bài
Các nội dung khác đáng xem trên KVBiz
Nhẹ một nhịp